Posted in WRITE

ĐỒNG NGHIỆP.

Gặp em nhiều lần qua công việc, khi thì mình vội vàng kiếm em vào phiên em trực để lấy phiếu taxi, khi thì em kiếm mình để ghi một số giấy tờ, kí gấp tờ giấy chứng sinh…. Cũng chỉ vậy thôi, hoàn toàn không biết gì hơn về nhau, cũng chưa bao giờ hỏi thăm hay nói thêm một câu gì ngoài chuyện công việc đang cần giải quyết – dù vẫn được gọi là đồng nghiệp. Cũng nhớ hình như có lần em mệt hay sao đó có vẻ không nhiệt tình lắm… Rồi cũng chỉ vậy thôi, như hầu hết các mối quan hệ khác, cứ lướt qua vội vàng… Mình còn chưa kịp nhớ tên em là gì – mà chính xác là không hỏi…

Rồi nhận được tin em mất một cách đột ngột, cũng chưa kịp nhớ là ai dù biết chắc là đã gặp em rất nhiều lần… Rồi sau đó, nghe những câu chuyện “hành lang” và đến viếng em, mới hiểu thêm về em, về hoàn cảnh của em nhưng chẳng để làm gì nữa, chẳng còn có cơ hội để thăm hỏi và thân thiện hơn, có chăng chỉ để an ủi chính mình là có biết một chút về cuộc đời ngắn ngủi của một người…

Cuộc sống vẫn cứ vội vàng, con người ta vẫn cứ phải lướt qua nhau để kịp sống…!

Posted in Poems

OSCAR VÀ BÀ ÁO HỒNG.

Khép lại câu chuyện nhỏ – Oscar và Bà Áo Hồng,

Ta nghĩ về cuộc đời – sự sống và cái chết trong ánh nhìn trẻ thơ.

Chúng ta thường quy ước – cuộc đời đến trăm năm,

Nên ta thường lỗi hẹn năm năm hay mười năm.

Có một cuộc đời khác chỉ kéo dài một ngày,

Như cây hoa sa mạc: nảy mầm rồi già đi trong bốn mùa rất ngắn,

Nên cây không lỗi hẹn dù một ngày qua nhanh – thoắt sáng, trưa, chiều tối

Cây vẫn sống thản nhiên, trọn vẹn hai bốn giờ: kịp nở hoa rồi tàn, gieo sự sống muôn đời.

Cậu bé nhỏ Oscar còn mười hai ngày để sống,

Cậu không buồn không khóc, cậu muốn giống như hoa gieo thêm niềm hy vọng cho mảnh đời không may,

Mỗi ngày cậu chọn sống như mười năm rực rỡ,

Để kịp cười, kịp khóc, kịp yêu thương, kịp hết giận hờn…

Bà Áo Hồng bạn cậu, tưởng như sống trăm năm,

Cuộc đời đâu chỉ có nghĩa vì quá dài hay ngắn,

Chúa đã chọn mỗi người với sứ mệnh trong đời, 

Chúa đã chọn bà như là bà Hoa Hồng, đem tình yêu của cậu sưởi ấm cho mọi người.

Ngày cậu thanh thản ta đi, ta khép lại trang cuối và nghĩ về đời ta,

Nào ta có biết chắc một ngày, một năm hay mấy mươi năm,

Ta bỗng nhớ điều Chúa nhắn nhủ Oscar:

Hãy trân trọng mỗi ngày mới, hân hoan đón bình minh như lần đầu trong đời.

(15.01.2016)

Posted in Poems

CÔ ĐƠN

Có những lúc cô đơn đến tận cùng đáy mắt,

Đã lấy hết giọt nước vẫn còn trong vắt,

Đã vơ vét đến cạn kiệt yêu thương chưa kịp tắt,

Đem gói ghém hết cô đơn thành nỗi nhớ – nỗi nhớ không có nhân vật.

Nhớ đến quay quắt một vòng ôm thật chặt mà không nhớ nổi một khuôn mặt người.

Nhưng ai cũng muốn giữ lại cô đơn như con người chỉ đến và đi đơn độc trong cuộc đời.

Có ai chịu đổi hết cô đơn chỉ để lấy lại những nụ cười và những cái nắm tay ơ hờ?

(03.07.2016)

Posted in Poems

“HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH”

“Tôi đã thấy hoa vàng trên cỏ xanh”

Tôi đã thấy câu chuyện cổ tích trên trang giấy

Tôi đã thấy mình xanh trong giấc mơ ngày ấy

Dưới ánh đèn vàng ám ảnh đêm thâu

Mọi người nói với nhau về những giấc mơ và cả những phép màu

Tôi chỉ ước những điều rất thật

Suốt đường đời ai ai mãi bên nhau.


Tôi đã thấy cỏ vẫn xanh và hoa đã đổi màu

Cuộc đời này chẳng ai mãi sum vầy

Vui duyên gặp gỡ để không buồn phút chia tay

Hạnh phúc cũng chẳng đong được bằng chiều dài ngày tháng

Hạnh phúc nếm được bằng rực rỡ sắc vàng.


Nếu được ước lại từ đầu,

Tôi vẫn chỉ có giấc mơ thời thơ ấu

Người gặp người để mãi mãi bên nhau

Hoa vẫn vàng, cỏ vẫn luôn xanh.

(06.10.15).

Posted in DRAW AND WRITE, WRITE

“NO COUNTRY FOR OLD MAN.”

Thời chiến tranh, gia tài của anh lính trẻ 18 tuổi chỉ là một gói áo quần, mùng mền và vật dụng cá nhân. Anh tình cờ gặp nàng ở nhà một người quen trong thời gian công tác Hà Nội. Nàng 13-14 tuổi, mồ côi, sống với chị và vì hoàn cảnh khó khăn phải đến ở một gia đình nhận nuôi với lời hứa cho ăn học vì nàng là một người ham học, nhưng rồi lời hứa không giữ được – nàng bỗng dưng trở thành người giúp việc nhà. Anh hiểu tâm sự ấy của nàng, nhưng anh chẳng có gì để giúp nàng ngoài vài mối quan hệ ở Hà Nội. May mắn anh đã tìm được một nơi có thể gửi gắm nàng để làm gia sư cho những đứa trẻ nhỏ trong nhà và đi học. Với nàng, đó là một ân nghĩa lớn, một món nợ. Tình yêu tuổi trẻ của anh và nàng đã bắt đầu như vậy.
Vài năm sau, anh được tổ chức cử đi học nước ngoài với những ràng buộc và quy định trong quân ngũ nên phải chia tay với nàng. Anh không có sự lựa chọn nào khác, anh cũng không cho nàng một cơ hội nào… Chuyện học hành, nghĩa vụ và lí tưởng tuổi trẻ đã lấy hết thời gian của anh và giúp anh tạm quên nàng…

Nhưng rồi anh tình cờ gặp lại nàng trong một buổi lưu diễn văn nghệ giao lưu giữa hai nước năm năm sau đó tại đất khách. Tình yêu của họ dành cho nhau chưa bao giờ hết nên được viết tiếp. Về nước, họ quay trở lại bên nhau. Gia tài của anh sau bao năm cũng chỉ là cái balo con áo quần, vật dụng cá nhân và năm mét vải lụa dành tặng nàng – mối tình đầu và là tình yêu đi hết tuổi trẻ của anh.

Một đêm anh đến nhà nàng thăm, khuya quá nên ở lại – lúc này nàng đang ở với vợ chồng người chị gái và ba người con trong căn nhà 25 mét vuông. Nàng nhường cho anh tấm ván mỏng kê làm giường và trãi chiếu nằm cạnh. Nửa đêm, nàng khẽ thức anh dậy, nàng tình nguyện trao hết cho anh. Anh rất xúc động trước tình cảm đó của nàng, nhưng chưa dám tiến tới vì những quy định trong quân ngũ và cả vì khoảng không gian 5 mét vuông cho mỗi người lúc ấy. Sáng mai, khi anh thức dậy thì nàng đã đi rồi, sau đó anh cũng không còn gặp được nàng nữa, chỉ qua lời nhắn gửi của người chị, anh được biết rằng nàng trách “anh khô khan và không yêu nàng nhiều” và rồi biết tin nàng đã nhận lời làm vợ anh chàng theo đuổi nàng từ lâu và nghe đâu anh chàng đó ngoài tình yêu sâu đậm với nàng còn có tài sản hơn anh là một chiếc xe đạp. Trước ngày kết hôn một tuần, nàng nhắn gặp anh và đêm cuối cùng đó, nàng nói với anh rằng nàng vẫn còn yêu anh và muốn trao tặng món quà quý nhất mà nàng có trước lúc phải mãi mãi xa anh. Sự chính nghĩa của một người đàn ông không cho phép anh nhận nó và hơn hết anh không muốn nàng có một cuộc hôn nhân không hạnh phúc.

Sau đó, anh lấy vợ – một người phụ nữ bình thường nhất để có thể là một người vợ và cho anh, đứa con duy nhất còn sống của ba mẹ anh những đứa con. Cuộc hôn nhân không tình yêu và không có cả sự tương xứng về học thức vì vợ anh chưa từng được đi học đã nhanh chóng tạo nên những đổ vỡ, nhưng ly hôn là điều mà người đàn ông ở thế hệ của anh không hề nghĩ đến. Nàng của anh cũng mất sau đó khi mang thai đứa con đầu lòng và không vượt cạn an toàn.

Sự nghiệp của anh có những bước tiến vững chắc như mong muốn cho đến lúc về hưu muộn ở lứa tuổi ngoài 70. Nhưng chuyện tình yêu thì dừng lại từ cái đêm xưa cũ ấy…

Ông bây giờ đã gần 90 tuổi, đã từng là người có quyền cao chức trọng, cảm thấy cuộc sống dường như đang trôi qua trong vô nghĩa, tẻ nhạt và cô đơn vì những người ở lứa tuổi ông đã không còn hay ít ra là không còn khoẻ được như ông. Tuổi già của ông khoẻ mạnh nhưng đơn độc. Như những người lớn tuổi khác dường như chỉ mang theo với mình cái quá khứ không còn thích nghi với thời cuộc – “là người của thời quá khứ” (theo như cách ông nhìn nhận), mỗi sáng ông cặm cụi đến quán cà phê quen, mở máy tính viết say sưa, toàn viết về chuyện tình yêu như một ám ảnh và để quên thế giới bên ngoài, nghe ông nói thì nếu in thành sách chắc phải đến 600 trang. Nhưng rồi trong một quán cà phê nhỏ, một ngày Sài Gòn không đủ nắng, gặp một người phụ nữ trẻ có thể bỏ qua hết những hối hả của cuộc sống ngoài kia chăm chú lắng nghe, ông đã nói say sưa về chuyện đời – chuyện về bên thắng cuộc, bên thua cuộc, nói về Trung Quốc, Liên Xô, Nước Mỹ, Campuchia, rồi chuyện xưa cũ về Gia Long, Quang Trung, chuyện kinh tế, đầu tư, chuyện về tuổi trẻ ngày ấy và bây giờ…bằng cái nhìn khách quan, không thiên vị, không định kiến và rồi cuối cùng là câu chuyện tình yêu ông đã mang theo suốt đời với từng chi tiết nhỏ dù trên danh nghĩa nó đã kết thúc cách đây gần 60 năm…
Tiếng chuông điện thoại kéo cô về thực tại của cuộc sống, cô đã dùng hết ngân sách thời gian hiếm hoi của mình cho những chuyện không có trong kế hoạch và không có tên như vậy. Cô vội vã chào ông về, không ai lưu giữ một chút thông tin gì của nhau, cô không chắc ông có dùng điện thoại, email hay Facebook gì… Xong việc, chợt nhớ tới ông, cô thử dò tìm thông tin ít ỏi trên FB với cái tên ngắn ngủi: Chú X, nhưng “người của thời quá khứ” không sử dụng mạng xã hội… Có lẽ hôm sau cô sẽ quay lại chỗ cũ tìm ông, cũng có thể ngày mai cô sẽ quên cuộc gặp gỡ này nên cô vội lấy máy bấm vội những dòng chữ để nhớ về một người đàn ông gần 90 tuổi đã nhắc cô nhớ về ý nghĩa của cuộc đời bằng câu chuyện về chính cuộc đời mình, để ít chục năm nữa trong một quán cà phê nào đó của thời tương lai, cô – một người phụ nữ cô đơn chỉ vì lí do đơn giản là tuổi già cũng sẽ nói chuyện với một cậu trai trẻ nào đó về cuộc đời của cô – một câu chuyện khác, có màu sắc khác…

(16.10.2016)

Posted in DRAW AND WRITE

SÀI GÒN – HỒN NHIÊN MÀ SUY TƯ.

Một ngày đầu năm, dành trọn vẹn và sống hết lòng với Sài Gòn, để biết thêm nhiều ngóc ngách của thành phố và để thấy yêu thêm nơi này. Có lẽ không có nơi nào trên mảnh đất hình chữ S có văn hoá đa dạng, phong phú và cởi mở như Sài Gòn. Và…

Thử sống như tây một buổi chiều, khoác ba lô lang thang khắp nơi, dừng chân ở khu phố Tây, ngồi chổm uống bia bên vỉa hè như tây Ba lô thứ thiệt và dễ dàng làm cho một người đàn ông có dáng vẻ khắc khổ và lam lũ hơn nhiều so với công việc là bưng cái rổ nhẹ tênh mỉm cười khi gật đầu với một lon đậu, rồi nhìn qua ông tây bàn kế bên đang đứng lên nhún nhảy theo ngẫu hứng mua vui cho mọi người – thấy đời cũng giản đơn, thấy niềm vui cũng dễ…

Thử làm một người không tôn giáo, lang thang khu Sài Gòn chợ Lớn, vào chùa Bà thắp nén nhang vòng cầu an theo tục lệ của người Hoa – để biết một vòng nhang cháy mất cả một tuần; rồi vào nhà thờ cha Tam lặng nghe giảng đạo, kiên nhẫn chờ để biết sau buổi lễ những người đàn ông phong trần kia cũng ngoan ngoãn xếp hàng lên nhận chiếc bánh thánh nhỏ xíu như thế nào; và rồi biết thêm bên cạnh một khu chợ lụp xụp có một nơi nhỏ nhắn nhưng trang nghiêm gọi là thánh đường Hồi giáo và giữa SG hoa lệ vẫn có những người phụ nữ trang phục che nửa mặt rất ngoan đạo. Tất cả những điều khác biệt này đã tạo nên cùng những giá trị chuẩn mực và nhân văn giữ cho con người sống đúng, sống tốt trên cả những quy định của xã hội và đôi khi trên cả luật pháp.

Thử làm một người không quốc gia khi vào bảo tàng chiến tích chiến tranh – khách quan nhất để không thấy ai gây tội ác với ai. Thật sự trong một cuộc chiến, ai cũng có lí lẽ, lí tưởng và niềm tin riêng của mình để chiến đấu và hy sinh vì nó…Tuy nhiên, cuối cùng điều đọng lại vẫn là sự tàn bạo và dã man của chiến tranh với con người, chiến tranh luôn là tội ác chống lại loài người dù đứng bên nào, dù là phe nào, dù nhân danh điều gì…Nhìn ánh mắt chăm chú nhưng thẫn thờ, đầy cảm xúc của du khách nước ngoài khi xem những bức hình, những mẫu vật mà chắc chắn có người có liên quan theo cách nào đó đã nói lên rất nhiều điều. Vào cái khoảng khắc phải bắt gặp những điều nhói lòng, chỉ mong hoà bình cho mảnh đất này, tạm quên hết những lí lẽ và cả những đúng sai…

Đã chụp rất nhiều hình – rất chăm chút nhưng cuối cùng thì bức hình chụp lén vội vàng người đàn ông dựa vào bức tường “rác” lặng lẽ vẽ tranh giữa phố phường một ngày đầu năm đã gây ấn tượng mạnh mẽ về một niềm an bình và niềm tin vào những điều tốt đẹp của con người… Hình ảnh này đã chạm được góc sâu kín nhất trong tâm hồn của người đang cố gắng sống hài hoà giữa những đòi hỏi khắc nghiệt của thực tế cuộc sống và việc theo đuổi những thứ đơn giản hơn, ít vật chất hơn.

Khép lại một ngày mới mẻ, tự hứa với mình là sẽ vẽ cho được một bức tranh có sắc màu về SG cho những ngày đầu năm mới.

(01.01.2016)

Posted in DRAW AND WRITE, WRITE

ĐÀ LẠT – AI CŨNG CÓ MỘT CUỘC HẸN.

da-lat-binh-an

Với Đà Lạt, từ người nổi tiếng đến người bình thường, từ nghệ sĩ, trí thức đến dân lao động, từ người cũ đến người mới… ai đã từng đặt chân đến đều được phép yêu và được trao tặng lại những miền kí ức rất đẹp, rất thơ và cả những nuối tiếc. Dù chỉ dăm bảy ngày hay vài ba tháng, ai đến rồi hẳn đã nhớ, đã thương và đã viết về Đà Lạt lúc đang còn ở đó đẹp như lúc đã rời xa. Người có nhiều trăn trở và tâm tư đến với Đà Lạt để lắng đọng và bình yên, người khô cằn trái tim vì cuộc sống mưu sinh tìm đến để khơi dậy lại thứ cảm xúc đã quên lãng. Người nghệ sĩ đi tìm ca từ, ý thơ, nét họa qua cảnh vật và con người từ quá khứ đến hiện tại, người bình dân tìm nơi tạm nghỉ và tìm về những giá trị tinh thần hiếm hoi trong đời sống. Những đôi tình nhân tìm đến chọn Đà Lạt làm nhân chứng cho tình yêu, những kẻ cô đơn tìm đến để được vỗ về, an ủi và nuôi dưỡng niềm tin vào tình yêu…

Mỗi người có một lí do khác nhau nhưng đủ nặng lòng để ai cũng tham lam muốn giữ Đà Lạt cho riêng mình, có thể chỉ để níu giữ một khoảnh kí ức chưa đủ đầy của những ngày tháng ấy, một mùa hoa dã quỳ cũ – rất cũ, trên một dốc đồi phủ một màu vàng hoa, hoa ngập cả trong hơi thở, đọng lại trên môi, rơi mềm trên vai và thời gian đã dừng lại… Chỉ chừng đó thôi cũng đủ để mỗi năm lại cứ lưu luyến xin được hẹn hò với Đà Lạt, có thể lại vào mùa dã quỳ vàng rực, hay lúc hoa anh đào vừa phơn phớt hồng hay mùa cà phê đang đơm hoa trắng muốt… để điền thêm vào những khoảng trống kí ức – nối liền những mảnh ghép rời rạc nhưng mạch lạc… Dù cảnh có thay đổi, dù người không còn cũ thì ít nhất vẫn còn đó một mùa hoa và hơn hết là một Đà Lạt, như Nguyễn Vĩnh Nguyên trìu mến gọi “Đà Lạt – một thời hương xa”.